So sánh sản phẩm

Nhập khẩu và phân phối thiết bị phòng cháy chữa cháy

phòng chống cháy nổ cho máy biến áp

Ngày đăng : 18:53:39 12-03-2017
PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY CHO TRẠM BIẾN ÁP
 
  1. Những thiết  bị cơ bản của trạm biến áp và tính chất nguy hiểm cháy, nổ của chúng
  1. Những thiết bị cơ bản của trạm biến áp
Trạm biến áp có những thiết bị cơ  bản sau: Máy biến áp, máy cắt ( máy cắt không khí, máy cắt dầu, máy cắt phụ tải, máy cắt khí elega SF6), thiết bị tự động bảo vệ, dao cách ly, thiết bị báo cháy, chữa cháy tự động
  • Máy biến áp:
+ Cấu tạo:
Cấu tạo của máy biến áp gồm các bộ phận cơ bản sau: Mạch từ (lõi thép và các chốt ép), cuộn dây, bình cầu dãn nở, ống dẫn dầu, van lọc xiphong, bộ lọc khi, ống phòng nổ, ống chỉ mức dầu ở bình dãn nở dầu, sứ cao, hạ áp, đầu dây trung tính, bộ chuyển mạch, nhiệt kế.

Máy biến áp - phongchaythanglong.vn
+ Phương pháp làm mát máy biến áp: khi máy biến áp làm việc, tổn hao năng lượng trong mạch từ và trong các cuộn dây biến thành nhiệt năng đốt nóng các phần tử của chúng. Người ta sử dụng các phương pháp để hạ thấp nhiệt máy biến áp. Trên thế giới có một số phương pháp làm mát sau:
  • Làm  mát tự nhiên:
Cuộn dây, lõi thép được làm mát do không khí môi trường xung quanh. Phương pháp này chỉ áp dụng với những máy biến áp không lớn hơn 750 kVA với điện áp thứ cấp 220/127 và 380/220.
  • Làm mát bằng dầu:
Làm mát máy biến áp bằng dầu tự nhiên: Máy biến áp được làm mát bằng dầu cách điện tuần hoàn do đối lưu tự nhiên bên trong thùng ( thùng có vở trơn, có gợ song, có ống dẫn hoặc có những bộ tản nhiệt). Công suất của các máy biến áp được làm mát kiểu này có thể đạt 10000-16000 kVA.
Làm mát máy biến áp bằng dầu tự nhiên có đặt quạt để tăng cường độ tản nhiệt trên bề mặt làm mát. Công suất của các máy biến áp được làm mát kiểu này có thể đạt đến 80000kVA.
Làm mát bằng dầu và không khí tuần hoàn cưỡng bức: Với các máy biến áp công suất lớn hơn 80000 kVA người ta sử dụng hệ thống với sự lưu thông cưỡng bức dầu và không khí. Số lượng quạt làm việc có thể thay đổi phụ thuộc tải và nhiệt độ của dầu máy biến áp.
Làm mát bằng dầu kết hợp với nước lạnh: Phương pháp này áp dụng với các máy biến áp công suất đặc biệt lớn, từ 250000 kVA. Dầu biến áp được làm mát bằng cách chảy qua đường ống dẫn dầu vào trong bộ phận làm mát luộn luôn có nước lạnh chảy qua nhờ hệ thống bơm nước lạnh tuần hoàn.
 
  1. Sự nguy hiểm cháy, nổ của máy biến áp
Cơ sở để đánh giá sự nguy hiểm cháy, nổ của máy biến áp trong quá trình vận hành được xác định bằng mức độ tồn tại chất cháy, sự tiếp xúc của chúng với không khí và nguồn nhiệt gây cháy.
+ Chất cháy:
Dầu biến áp là một sản phẩm của quá trình chưng cất dầu mỏ, có thành phần chủ yếu là : hydrocacbon naptenic (CnH2n), hydrocacbon paraffinic (CnH2n+2), hydrocacbon aromatic ( CnH2n-6) với n=15÷18. Trong quá trình làm việc của máy biến áp, dầu biến áp bốc hơi, hơi này kết hợp với oxy trong không khí tạo thành hỗn hợp có khả năng gây cháy, nổ.
 
Ngoài ra, khi dầu bị đốt nóng liên tục sẽ bị lão hóa, giảm tính cách điện đánh thủng cách điện cuộn dây. Do cung lửa tác dụng dầu biến áp tham gia phảm ứng nhiệt, tạo thành hỗn hợp các khí CH4, H2, C2H4. Các khí trên kết hợp với oxy trong không khí tạo thành môi trường nguy hiểm cháy nổ
 
  •  
Nhiệt độ máy biến áp tăng cao quá giới hạn cho phép do những nguyên nhân sau:
  • Máy biến áp bị quá tải do dòng điện phụ tải máy biến áp lớn hơn dòng điện định mức của máy biến áp.
  • Quá nhiệt do mức dầu hạ thấp hoặc do đối lưu dầu trong máy biến áp kém.
  • Do ngắn mạch một số vòng dây của cùng một cuộn dây làm phát sinh tia lửa điện.
  • Máy biến áp làm việc liên tục, vì vậy trong máy tạo thành dòng nhiệt có hướng chuyển động từ các bộ phận trong vỏ máy vào môi trường xung quanh.
 
  1. Những nguyên  nhân cơ bản gây cháy, nổ máy biến áp
Trong vận hành máy biến áp thường bị cháy là do các nguyên nhân chính sau:
  1. Nhiệt độ của máy biến áp tăng quá mức cho phép do những hư hỏng trầm trọng xảy ra.
  • Cách điện giữa các lá thép bị hỏng do chúng bị già cỗi vì thời gian làm việc lâu vượt quá tuổi thọ của chúng hoăc do những hư hỏng cục bộ.
  • Cháy trong các lá thép do hỏng cách điện của chốt ép tạo ra ngắn mạch hoặc hư hỏng cục bộ cách điện giữa các lá thép gây ngắn mạch giữa chúng.
  • Ngắn mạch cục bộ các lá thép do có vật kim loại vật dẫn điện nào đó gây ngắn mạch.
  • Do lực ép mạch từ yếu, chi tiết bắt chặt bị long ra, các lá thép ngoài cũng bị tụt ở trụ cuốn dây hoặc gông từ, hoặc do điện áp sơ cấp cao quá giá trị định mức từ đó dẫn đến máy bị rung và kêu tới mức không cho phép.
  1. Do cuộn dây trong máy bị chập nhau.
  • Hiện tượng chập cuộn dây là do cách điện của cuộn dây bị già cỗi hay quá tải bị kéo dài, chế độ làm mát không đảm bảo, do hư hỏng cơ giới của cách điện vòng dây khi sự cố. Cuộn dây bị nhô lên khỏi mặt dầu vì mức dầu thấp quá mức.
  • Cuộn dây bị đánh thủng ra vỏ là do cách điện có vết nứt hoặc bị sứt mẻ.
  • Ngắn mạch giữa các vòng dây của cuộn dây, nguyên nhân chủ yếu là cách điện bị phá hủy, dầu biến áp bị ẩm, dòng điện ngắn mạch chạy qua dầu ra vỏ gây ngắn mạch xuống đất hay ngắn mạch giữa các pha.
Hiện tượng các vòng vây bị chập chiếm 70% trong tổng số hư hỏng máy biến áp. Chất cách điện của cuộn dây trong máy bị hỏng nhanh khi máy biến áp làm việc liên tục ở nhiệt độ 105oC. Ngắn mạch giữa các cuộn dây, xuất hiện lực điện động của dòng điện ngắn mạch gây biến dạng cuộn dây và dịch chuyển theo hướng dọc trục. Thường hiện tượng này xảy ra cùng hiện tượng chạm vỏ của cuộn dây.
  1. Ngắn mạch giữa các pha.
Nguyên nhân chủ yếu là cách điện giữa các pha bị hỏng. Dạng này ít xảy ra. Khi xảy ra thường kèm theo hiện tượng phụt dầu qua ống phòng nổ. Vì đây là dạng sự cố lớn, dầu bị sôi mạnh, áp suất trong máy rất lớn.
  1. Đứt mạch giữa các pha của cuộn dây:
Nguyên nhân chủ yếu là do các đầu nối bị phá huỷ bởi lực cơ học, lực điện động của dòng ngắn mạch, tiếp xúc không chặt. Khi đứt mạch xuất hiện hồ quang làm phân tích đầu, từ đó có thể gây ngắn mạch các pha và phóng điện ra vỏ.
đ) Hư hỏng các sứ đầu vào của máy biến áp.
Do cách điện của sứ đầu vào bị hỏng gây chạm vỏ hay phóng điện giữa các pha. Sứ đầu vào bị nứt hay can dầu, mặt trong của sứ bị bẩn, chim thú sa vào, chạy trên mặt biến áp.
Sự phóng điện giữa các sứ đầu vào xuống vỏ tạo thành hồ quang dẫn điện dẫn đến chảy dầu, gây cháy nổ. Hiện tượng này do ngoài sứ bị lớp bụi bẩn, ẩm dẫn điện. Ống cách điện bakelit bẩn, nứt, dầu cách điện trong sứ bị phân tích thành ôxit cacbon và axit.
  1. Do những sai lầm của công nhân vận hành.
Do thao tác nhầm khi bảo dưỡng, sửa chữa máy biến áp; do sơ xuất khi sử dụng lửa trong khi vận hành máy biến áp.
  1. Do tác động của thiên nhiên.
Khi mưa giông máy biến áp có thể bị sét đánh thẳng nếu hệ thống thu lôi chống sét không đảm bảo độ tin cậy, khi có sét đánh trên đường dây tải điện, điệp áp của sét theo đường dây chạy vào trong máy gây quá điện áp trong máy, nếu các thiết bị chống sét( kiểu van, ống tác động không kịp thời hay không tác động sẽ gây cháy máy).


 
  1. Những biện pháp phòng cháy máy biến áp
  1. Khi chế tạo:
+ Kiểu cấu tạo của chúng phải thích hợp với môi trường nhiệt độ phát nóng khi làm việc phải thích hợp nhiệt độ cho phép liên tục lâu dài. Máy biến áp phải được bảo vệ, ổn định chống dòng điện ngắn mạch, quá tải.
+ Để chống tạo thành khối lượng hơi lớn gây nguy hiểm cho vỏ máy và chống mức dầu bị hạ thấp các máy biến áp công suất từ 1000 kVA trở lên phải có bảo vệ bằng rơ le hơi đặt giữa thùng máy và bình giãn nở dầu, Rơ le hơi dùng để báo tín hiệu và cắt máy biến áp ra khỏi lưới điện khi xuất hiện những hỏng hóc bên trong máy, khi đó xảy ra đốt nóng cục bộ làm phân hủy dầu , chất cách điện, và sinh hơi.
+ Máy biến áp được đặt bình dãn nở dầu, khi dầu bị đốt nóng trong quá trình làm việc có thể giãn nở trong bình và chống hiện tượng dầu bị oxi hóa và ẩm, hạn chế bề mặt tiếp xúc của dầu với không khí.
 
Bình giãn nở dầu có thể tích bằng 10% thể tích dầu trong máy biến áp. Trên bình giãn nở dầu được trang bị ống chỉ mức dầu theo dõi sự thay đổi khi nhiệt độ môi trường thay đổi từ -45oC đến +45oC
+ Đối với các máy biến áp công suất nhỏ để theo dõi nhiệt độ dầu cần phải đặt nhiệt kế thủy ngân. Đối với máy công suất lớn trang bị đồng hồ điện kế điện trở đặt ở thành máy biến áp.
  •  
+ Trang bị bộ lọc xiphoong- nhiệt để duy trì tính chất cách điện của dầu biến áp trong quá trình vận hành. Bộ lọc xiphoong –nhiệt là bình hình trụ nối với thùng máy bằng hai ống nối trong bình chứa đầy hạt hoạt tính, chất hút để hút các sản phẩm phân hủy từ dầu. Theo nguyên tắc xiphoong –nhiệt, dầu nóng đi qua bộ làm mát vào bộ xiphoong –nhiệt đặt song song với nó , khi đó dầu làm mát đi xuống dưới.
Khi qua bộ lọc xiphoong nhiệt từ trên xuống dưới dầu liên tục được làm sạch.
+ Trang bị hệ thống quạt nhân tạo:
Các máy biến áp công suất từ 7500 kVA trở lên cần được trang bị hệ thống quạt điện để làm mát các ống dẫn dầu và làm mát bộ làm mát dầu, việc đóng ngắt hệ thống quạt phụ thuộc vào nhiệt độ trên bề mặt dầu. Quạt được đóng ngắt có thể tự động hoặc điều khiển bằng tay.
+ Trang bị hê thống bảo vệ tự động.
Các máy biến áp phải được bảo vệ ổn định chống các sự cố quá tải ngắn mạch quá điện áp thiên nhiên xảy ra trên lưới: hệ thống báo tín hiệu ( chuông , đèn). Lắp đặt dao cách ly trên các pha, cầu trì cao, hạ áp, các bộ ngắt không khí, ngắt dầu , rơ le nhiệt, rơ le điện từ, bộ điện kháng.
 
Ngoài hệ thống chống sét đánh thẳng xuống trạm để bảo vệ máy biến áp không bị hỏng khi sét đánh trên đường dây, các biến áp được trang bị thiết kế theo chống sét kiểu ống , van. Tác dụng của thiết bị chống sét kiểu ống , van để giảm biên độ song quá điện áp đến trị số an toàn giữ nguyên cách điện cho thiết bịđược bảo vệ.
 
Ở trạm biến áp thường sử dụng bộ chống sét kiểu van. Chất vilit ở trong bộ chống sét là chất gốm đặc biệt có khả năng giảm nhanh điện trở khi điện áp đặt vào nó tăng đột ngột. Bộ chống sét được nối trên từng pha phía cao áp. Khi trên pha xuất hiện quá điện áp nguy hiểm tong cái chống sét xảy ra đánh thủng qua các khe phóng điện, điện trở đĩa vilit giảm mạnh và mạch được nối tắt qua đất bằng cái chống sét. Sau khi điện áp giảm điện trở của đĩa vilit được thiết lập lại tức thời và mạch dòng điện nối đất bị ngắt ra, các pha điện áp lại trở lại giá trị định mức.
 
+ Trang bị hệ thống báo cháychữa cháy.
Đối với các máy biến áp công suất từ 220000 kVA trở lên cần được trang bị hệ thống báo cháy khi xuất hiện nhiệt độ cao, ngọn lửa hoặc khói hệ thống chữa cháy bằng bụi nước, các bình bọt , bình khí CO2 và các dụng cụ chữa cháy ban đầu. Các trạm biến áp lớn phải trang bị hệ thống thông tin liên lạc với đội chữa cháy chuyên nghiệp để kịp thời báo cháy khi xảy ra.
 
Hiện nay người ta đã trang bị hệ thống chữa cháy tự động bằng khí sạch cho các máy có công suất lớn từ 5M.V.A trở lên. Đây là hệ thống tự động chữa cháy do hãng Hochiki sản xuất tại Mỹ.
 
Nguyên tắc làm việc của hệ thống tự động chữa cháy máy biến áp bằng khí FirePro của Hochiki
 
FirePro® Xtinguish là 1 hệ thống chữa cháy khí sạch mới thân thiện với môi trường dùng để ngăn chặn ngọn lửa, phù hợp với nhiều ứng dụng ở tất cả những nơi cần được bảo vệ.

FirePro® không độc hại, không ăn mòn, không ảnh hưởng đến tầng Ozone, ngăn chặn sự nóng lên toàn cầu.

Bình thường chất chữa cháy này ở dạng rắn, khi bị kích hoạt sẽ nở ra nhanh chóng và chuyển thành dạng hơi phun vào vùng cháy, dập tắt đám cháy bằng cách ngăn chặn các chuỗi phản ứng hóa học của ngọn lửa một cách thân thiện với môi trường và hiệu quả.

Ngoài ra hệ thống FirePro® Xtinguish không phức tạp trong cài đặt và cũng như dễ bảo trì. Sự kết hợp của FirePro® Xtinguish và tủ xả khí HCVR-3 là giải pháp hoàn hảo cho việc ngăn chặn ngọn lửa ở những nơi như văn phòng, khu trung tâm lưu trữ dữ liệu, phòng máy chủ, nhà kho, ngân hàng, phòng máy biến áp, phòng thiết bị điện tử…

FirePro® Xtinguish đạt chứng nhận UL như là một hệ thống chữa cháy khí đi tiên phong. Các ứng dụng dễ dàng thiết kế và cài đặt. Không cần đường ống, bồn áp và trụ, cũng như không cần các tính toán phức tạp. Đơn giản chỉ cần chọn số lượng bình chứa chất chữa cháy và công việc thiết kế vông cùng đơn giản.

bình khí chữa cháy firepro hochiki


Các sản phẩm thông thường sử dụng phương pháp làm cạn oxy, làm mát hoặc cả hai để dập tắt lửa. FirePro® Xtinguish gây ức chế các chuỗi phản ứng hóa học trong lửa. Bằng cách loại bỏ các gốc tự do, dập tắt lửa mà không gây suy giảm oxy.

ĐẶC TÍNH
- Hiệu quả hơn Halon 10 lần - Hiệu quả hơn chữa cháy khí CO2 60 lần
- Không ăn mòn, không dẫn điện
 
AN TOÀN
- Không độc hại
- Duy trì sự sống (Không làm cạn Oxy) - Không sinh áp lực khi xả khí chữa cháy
- Đáng tin cậy - Hoàn toàn tự động
- Phù hợp cho chữa cháy loại A,B và C - Chữa cháy cực kỳ nhanh
 
HỆ SINH THÁI
- Không ảnh hưởng đến tầng Ozone - Ngăn chặn sự nóng lên toàn cầu
- Không ảnh hưởng đến bầu khí quyển - Đạt chuẩn môi trường EPA SNAP
 
TIẾT KIỆM
- Giảm thiểu rủi ro gây tai nạn lao động - Không lắp đặt cơ khí, không đường ống kim loại
- Lắp đặt đơn giản - Giảm thiểu bảo trì - Tiết kiệm đáng kể so với các sản phẩm khác
- Chuẩn UL - hạn sử dụng 10 năm
 
  1. Khi vận hành:
Trước khi đưa máy biến áp vào vận hành chú ý: Máy biến áp mới sản xuất hay mới đại tu phải được sấy khô cách điện. Phải được kiểm tra lại điện trởcách điện của cuộn dây, lõi thép. Các thông số điện áp…. phải đúng tiêu chuẩn.
Điện áp phòng điện đặc trưng cho độ bền cách điện của dầu biến áp nếu điện áp của máy đến 15KV, dầu mới là 25KV/mm, dầu đã vận hành 20kV/mm
 
  1. Kiểm tra an toàn phóng cháy điện áp
Trong vận hành máy biến áp thường mang điện áp cao, chúng ta chỉ có thể kiểm tra phía ngoài của máy biến áp. Kiểm tra phía trong máy thông qua các tín hiệu ủa thiết bị bảo vệ
+ Kiểm tra mức dầu trong bình giãn nở bằng cách nhìn trên cột đo dầu , vạch chuẩn kiểm tra là vạch đỏ tương ứng với môi trường xung quanh. Nếu mức dầu thấp hơn vạch đỏ, phải bổ sung thêm dầu
+ kiểm tra nhiệt độ của dầu qua nhiệt kế hay đồng hồ nhiệt điện trở đặt ngoài vỏ máy
+ Kiểm tra nếu thấy hạt hút ẩm xilicazen của bộ lọc khí đã chuyển từ xanh sang hồng phải thayhạt mới
+ Kiểm tra sự làm việc của rơ le khi rơ le hơi phát tín hiệu phải xem xét máy biến áp và xác định tính chất hư hỏng của nó theo màu sắc và theo mức độ khí cháy được trong rơ le hơi.
+ Khi rơ le hơi tác động cắt máy biến áp ra khỏi điện lưới trong rơ le hơi thường có khí màu trắng , xámhoặc màu xanh cháy được .
+ Khi rơ le hơi báo tín hiệu tác động cắt máy, sự cố chủ yếu là mạch từ , cuộn dây, chất cách điện của lõi thép, cuộn dây hỏng, dầu ẩm gây ra chất chaystrong lõi thép.
+ Kiểm tra ống phòng nổ thấy dầu phụt ra ngoài chứng tỏ khả năng ngắn mạch giữa các pha hoặc cái chuyển mạch bề mặt tiếp xúc bị yếu hoặc bị cháy.
 
+ Kiểm tra đầu dẫn điện ra. Nếu rơ le hơi làm việc, rơ le bảo vệ dòng điện cực đại và rơ le so lệch làm việc ta có thể kết luận hỏng hóc dạng: đánh thủng ra vỏ, phóng điện giữa các sứ, chảy dầu ở chỗ nối, chỗ gắn sứ, cần tìm để phát hiện vết nứt trên mặt sứ, mức dầu trong sứ giảm thấp và bẩn, vật lạ rơi vào sứ, bu long xiết không chặt, gioăng đệm hỏng.
+ Kiểm tra các bu lông , gioăng xiết, bộ làm mát, bình giãn nở dầu, phát hiện các vết nứt, chảy dàu.
+ Kiểm tra hệ thống làm mát: quạt nhân tạo , bằng nước, xem làm việc có đáng tin cậy không. Các máy biến áp công suất từ 10000 đến 60000 kVA ở các cánh tản nhiệt đặt 2 quạt. Việc đóng ngắt có thể điều khiển bằng tay hoặc tự động phụ thuộc nhiệt độ dầu và dòng điện của phụ tải. Chú ý khi nhiệt độ trên bề mặt dầu tới 90oC toàn bộ hệ thống quạt phải làm việc nếu thấp hơn 35oC cho phép máy làm việc không cần quạt.
+ Kiểm tra các thiết bị đo lường ampemet, volmet, đồng hồ đo tần số, các máy biến áp có công suất trên 1000 kVA phải có ampemet đo phụ tải cân bằng giữa 3 pha.
+ Kiểm tra điện trở cách điện. Dựa vào tài liệu đo hàng quý của trạm , chú ý : trạm phải đo điện trở cách điện của cuộn dây đối với vỏ và giữa các cuộn dây với nhau bằng megomet 2500 V nếu thấy kết quả đo điện trở cách điện = 0 chứng tỏ có hiện tượng bị đánh thủng ra vỏ hoặc đánh thủng giữa các cuộn dây. Nếu điện trở cách điện của 1 cuộn dây cũng như giữa các cuộn dây khác nhau thì khả năng hư hỏng ở sứ máy biến áp.
Đo điện trở giữa các pha và dây trung tính khi cuộn dây nối hình sao hoặc giữa đầu và cuộn dây bằng megomet 1000 V hoặc 2500 V. Nếu thấy kim đo chỉ về cực 1 giá trị nào đó thì khả năng hỏng là đứt hoặc tiếp xúc ở mạch cuộn dây xấu
+ Đối với dầu cách điện. Dầu biến áp ít nhất 3 năm phải thử nghiệm 1 lần đối với bộ máy có bộ lọc xiphong nhiệt , mỗi năm 1 lần đối với bộ máy không có bộ lọc xiphong nhiệt
+Thời gian quá tải của máy biến áp phụ thuộc vào phương pháp làm mát và phụ tải, nhưng khi quá tải 1,5 lần thời gian cho phép làm máy mát bằng dầu là không quá 70 phút , máy làm mát bằng không khí không quá 18 phút. Nếu quá tải gấp 2 lần thì máy làm mát bằng dầu không quá 10 phút, bằng không khí không cho phép quá tải tới 1,7 lần.
+ Kiểm tra các trang bị phòng cháy và chữa cháy.
Các máy công suất lớn hơn 220000kVA phải kiểm tra chất lượng của hệ thống báo cháy và chữa cháy tự động, kiểm tra hệ thống thông tin báo cháy xem có làm việc không . Kiểm tra chất lương khí CO2 và bột trong bình chữa cháy, Kiểm tra tổ chức chữa cháy của trạm và trình độ hiểu biết về phòng cháy chữa cháy của công nhân vận hành. Xem xét khả năng tiếp cận của xe chữa cháy tới trạm.
Kiểm tra các cửa ra vào để phát hiện chỗ hỏng, khóa có tốt không, tình trạng thông gió, ánh sáng trong gian đặt máy, biểm cấm “nguy hiểm điện áp cao”. Trạm biến áp ngoài trời kiểm tra hàng rào bảo vệ để đề phòng sự nguy hiểm khi đến gần quá mức cho phép có thể gây ra phóng điện.

 http://phongchaythanglong.vn/firepro-he-thong-chua-chay-khi-cong-nghe-moi--1-9-22050.html
 
 
 
Tags: